Posts in : điều trị đái tháo đường - Máy đo đường huyết

  • Th3
    10

    Các phương pháp mới điều trị bệnh tiểu đường


    by Le Giang
    posted in Kiến thức
    No comments yet

    Theo Tổ chức Y tế thế giới, số người bị tiểu đường trên thế giới sẽ tăng lên 300 triệu vào năm 2025 so với 150 triệu người hiện nay. Tiểu đường có nhiều dạng khác nhau. Các dạng chính là tiểu đường loại 1, tiểu đường loại 2, và tiểu đường thời kỳ thai nghén.

    Tiểu đường loại 1, cũng được gọi là tiểu đường phụ thuộc insulin, là căn bệnh phá huỷ các tế bào beta trong tuyến tuỵ có chức năng tạo hormon insulin. Mặc dù dạng bệnh này phổ biến ở trẻ em, hoặc thanh niên, song nó có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, và chiếm 10% tổng số ca tiểu đường. Triệu chứng của tiểu đường loại 1 là thường xuyên đi tiểu, cực đói và khát, cơ thể yếu và luôn cảm thấy mệt mỏi.

    Đối với tiểu đường loại 2, cơ thể của bệnh nhân không tạo đủ insulin, hoặc không sử dụng đúng mức. Loại tiểu đường này chiếm gần 90% tổng số ca tiểu đường. Dạng bệnh này có nhiều nguyên nhân như di truyền, tuổi tác và cân nặng. Nó thường xảy ra ở những người béo phì trên 45 tuổi. Giảm cân và tập luyện thể dục đều đặn giúp bệnh nhân kiểm soát được tiểu đường loại 2. Tiểu đường loại 2 phát triển chậm. Các triệu chứng và biến chứng phát triển theo thời gian. Ngày càng có nhiều thanh niên mắc dạng bệnh này. Triệu chứng bao gồm mệt mỏi, mờ mắt, da khô và ngứa, hay có cảm giác đói và khát, số lần tiểu tiện tăng, có cảm giác râm ran hoặc mất cảm giác ở bàn tay hoặc bàn chân, nhiễm trùng không khỏi ở da, âm đạo hoặc bàng quang.

    nguy-co-mac-tieu-duong

    Tiểu đường thời kỳ thai nghén. Cơ thể của người phụ nữ thay đổi nhiều trong thời kỳ mang thai. Thai phụ có thể mắc dạng tiểu đường này. Mọi phụ nữ mang thai nên kiểm tra để phát hiện tiểu đường trong tháng mang thai thứ sáu (tuần thứ 24-28). Chỉ có khoảng 2-5% thai phụ bị tiểu đường thời kỳ thai nghén.
    Tiểu đường thai nghén hay xảy ra nhiều hơn ở thai phụ béo phì, hoặc ”cứng” tuổi. Nó phổ biến ở những phụ nữ Mỹ gốc Phi, phụ nữ Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và phụ nữ da đỏ. 35-50% bệnh nhân tiểu đường thời kỳ thai nghén về sau sẽ mắc tiểu đường loại 2. Duy trì chế độ ăn phù hợp, tập thể dục và giảm trọng lượng cơ thể có thể giảm nguy cơ mắc bệnh.

    Các phương pháp mới trị tiểu đường

    Phương pháp mới nhất trị tiểu đường hiện đang được thử nghiệm, đó là cấy tế bào tạo insulin của lợn cho bệnh nhân. Loại tế bào này không kích thích phản ứng miễn dịch bình thường của bệnh nhân. Các nhà khoa học Mỹ đã cấy tế bào insulin của lợn vào cơ thể 12 trẻ em bị tiểu đường loại 1. Không một đối tượng
    nào uống thuốc chống đào thải. Kết quả cho thấy, một số trẻ em có những dấu hiệu hồi phục rõ rệt. Một em không cần tiêm insulin hàng ngày. Một em khác không cần tiêm trong khoảng thời gian 6 tháng, và hiện mức insulin cần tiêm giảm 75% so với trước khi cấy ghép. 6 bệnh nhân khác cũng có xu hướng tốt lên.
    Song song với cấy ghép tế bào tạo insulin, thí nghiệm cấy ghép tế bào tuyến tuỵ cho người cũng đem lại kết quả đầy hứa hẹn. Đối với cấy ghép tế bào tuyến tuỵ, bác sĩ lấy tế bào từ tuyến tuỵ của một người hiến và ghép cho một người khác. Ngay sau khi cấy ghép, tế bào mới bắt đầu tạo insulin. Những nhà nghiên cứu hy vọng cấy ghép tế bào tuyến tuỵ, hoặc tế bào tạo insulin của lợn, sẽ giúp bệnh nhân tiểu đường loại 1 sống mà không phải phụ thuộc vào các mũi tiêm insulin. 4 trong số 5 bệnh nhân tiểu đường không cần phải tiêm insulin sau khi được cấy ghép các tế bào tuyến tuỵ của người. 28 trong số 35 bệnh nhân được cấy ghép
    năm ngoái không cần tiêm insulin trong thời gian 1 năm (tỷ lệ thành công 80% so với 11% trước năm 1997 và 14% trước năm 2000). Giới khoa học coi đây là bước đột phá, vì các thử nghiệm cấy tế bào tạo insulin trước kia đều không mấy khả quan. Thành công này mở đường cho việc cấy ghép tế bào tuyến tuỵ trên quy mô lớn.

    Thuốc ngăn chặn tiểu đường

    Ngoài liệu pháp cấy ghép tế bào, giới khoa học cũng nỗ lực phát triển các dòng thuốc trị tiểu đường.
    Trong một cuộc thử nghiệm kéo dài nhiều năm, nhóm nghiên cứu thuộc Đại học Colombia và Đại học California, San Francisco, đã sử dụng một loại thuốc có tác dụng ức chế hệ miễn dịch. Nó là một kháng thể tấn công các tế bào nhất định trong hệ miễn dịch – những tế bào tiêu diệt các tế bào tạo insulin. Đây là
    quá trình xảy ra ở bệnh tiểu đường. Bằng cách ngăn chặn những tế bào ”độc” này, cơ thể có thể tiếp tục tiết ra một lượng insulin và không phải phụ thuộc vào thuốc tiêm, cho phép người bệnh kiểm soát tiểu đường tốt hơn. Điều này cũng đồng nghĩa với việc người bệnh ít gặp phải các biến chứng như bệnh tim, mắt hoặc thận. Các liệu pháp tương tự đã được thử nghiệm trong quá khứ. Tuy nhiên, không giống như loại thuốc mới, chúng gây ra những tác dụng phụ. 12 bệnh nhân tuổi từ 7 tới 27 được tiêm loại thuốc mới hàng ngày trong vòng nửa tháng ngay sau khi được chuẩn đoán mắc tiểu đường loại 1. Nhóm nghiên cứu cũng giám sát 12 bệnh nhân khác không nhận được loại thuốc trên. Sau một năm, khả năng tiết insulin của 9 người được tiêm thuốc chỉ suy giảm chút ít. Trái lại, khả năng tiết insulin của 10 trong số 12 người không được tiêm bị giảm mạnh. Những người được tiêm loại thuốc trên có những dấu hiệu cải thiện rõ rệt
    về tình trạng bệnh tật. Hiện nhóm đang dự kiến tiến hành nghiên cứu trên quy mô lớn.

    thuoc
    DiaPep 277, một loại thuốc khác, được nghiên cứu bởi các nhà khoa học Viện nghiên cứu Weizmann (Israel), trong những lần dùng thử đầu tiên đã ngăn chặn hiệu quả quá trình hệ miễn dịch của bệnh nhân tiểu đường loại 1 tấn công các tế bào beta sản sinh insulin trên tuyến tuỵ. Tiến sĩ Itamar Raz, Đại học dược
    Hadassah-Hebrew (Israel) cho biết: ‘‘Sự phá huỷ các tế bào beta đã được ghăn chặn hoàn toàn. Kết luận này dựa trên theo dõi sau 10 tháng, lượng insulin tiết ra của người bệnh không giảm đi và còn có dấu hiệu phục hồi’’.

    Thực phẩm và tiểu đường

    Trong khi chờ đợi các loại thuốc mới cũng như kỹ thuật cấy ghép tế bào được hoàn thiện, bệnh nhân tiểu đường và người khoẻ mạnh có thể trông cậy vào chính các thực phẩm sẵn có để phòng và chữa bệnh.
    Ăn quả hạch hoặc bơ lạc nhiều lần một tuần có tác dụng hạ thấp nguy cơ mắc tiểu đường loại 2, ít nhất là đối với phụ nữ. Quả hạch giàu chất béo không bão hoà và các chất dinh dưỡng khác, góp phần ổn định mức glucose và insulin.

    qua hach
    Phụ nữ uống 2 ly rượu mỗi ngày có lượng insulin ổn định hơn mức insulin ở những phụ nữ chỉ uống nước cam và dường như bất kỳ loại rượu nào cũng có tác dụng này.
    Chế độ ăn với quá nhiều hamburger và thịt rán sẽ tăng nguy cơ mắc bệnh tiểu đường loại II ngay cả ở những người bệnh không chịu tác dụng của các yếu tố rủi ro khác như béo phì và bệnh di truyền.

    View more
  • Th2
    21

    Dược thảo trong điều trị đái tháo đường


    by Le Giang
    posted in Kiến thức
    No comments yet

    Kinh nghiệm y học truyền thống phương Ðông đã dùng nhiều dược thảo và bài thuốc để điều trị Đái tháo đường (ÐTÐ), chủ yếu có hiệu quả đối với ÐTÐ không phụ thuộc insulin (type 2). Sau đây là một số dược thảo thường được dùng trong các bài thuốc trị ÐTÐ type 2.

    hanhtay

    Kinh nghiệm y học truyền thống phương Ðông đã dùng nhiều dược thảo và bài thuốc để điều trị Đái tháo đường (ÐTÐ), chủ yếu có hiệu quả đối với ÐTÐ không phụ thuộc insulin (type 2). Sau đây là một số dược thảo thường được dùng trong các bài thuốc trị ÐTÐ type 2.
    1. Bạch truật
    Bạch truật có tác dụng hạ đường máu trên động vật đã được gây ÐTÐ thực nghiệm. Trong y học cổ truyền, bạch truật được dùng phối hợp với một số dược thảo khác để trị ÐTÐ. Các hoạt chất gây hạ đường máu là các atractan A, B và C.
    Bài thuốc: Bạch truật 12g, hoàng kỳ 65g, đẳng sâm 25g, hoài sơn 15g, phục linh 12g. Sắc uống ngày 1 thang. Mỗi đợt điều trị 2 tháng.
    2. Cam thảo đất
    Hoạt chất amellin trong cam thảo đất có tác dụng làm giảm đường máu và các triệu chứng của bệnh ÐTÐ, sự giảm nồng độ đường trong máu và nước tiểu diễn ra dần dần. Nó làm tăng mức dự trữ kiềm bị hạ thấp ở bệnh nhân ÐTÐ và giảm hàm lượng các chất tạo ceton trong máu.
    3. Câu kỷ
    Câu kỷ có tác dụng hạ đường máu trên động vật ÐTÐ và tác dụng ức chế men aldose reductose. Men này gây tích lũy sorbitol trong tế bào, là nguyên nhân quan trọng sinh những biến chứng nghiêm trọng của ÐTÐ như bệnh về võng mạc, thần kinh và thận. Câu kỷ được dùng phối hợp với các vị khác trong y học cổ
    truyền để làm thuốc chống ÐTÐ.
    Bài thuốc: Câu kỷ 12g, thục địa 20g, hoài sơn 20g, thạch hộc 12g, mẫu đơn bì 12g, sơn thù 8g, rễ qua lâu 8g, sa sâm 8g. Sắc uống ngày 1 thang.
    4. Hành tây
    Hành tây có tác dụng dự phòng sự tăng đường máu bởi một số chất vẫn thường gây ÐTÐ trên động vật thí nghiệm. Trên lâm sàng, cho bệnh nhân ÐTÐ uống dịch ép hành tây đã có tác dụng làm giảm đường máu. Hành tây sống cho vào thức ăn hàng ngày của bệnh nhân ÐTÐ không phụ thuộc insulin đã có tác
    dụng hiệp đồng và làm giảm liều thuốc cần thiết để điều trị bệnh.
    Ðể làm giảm đường máu, cho bệnh nhân ÐTÐ uống dịch ép hành tây, mỗi buổi sáng một thìa canh, uống liền trong 1-2 tháng sẽ có hiệu quả.
    5. Mướp đắng
    Quả mướp đắng còn xanh có tác dụng hạ đường máu trên động vật đã được gây ÐTÐ thực nghiệm. Khi cho động vật uống hàng ngày trong thời gian dài, nó làm chậm sự phát triển bệnh võng mạc và đục thủy tinh thể của mắt. Mướp đắng có tác dụng chống oxy hóa, loại bỏ những gốc tự do – là một trong những nguyên
    nhân gây ÐTÐ. Quả mướp đắng có tác dụng làm tăng khả năng dung nạp glucose của bệnh nhân ÐTÐ. Trên lâm sàng, cho bệnh nhân ÐTÐ type 2 uống đều đặn hàng ngày bột quả mướp đắng đã có tác dụng hạ đường máu, tác dụng này có tính chất tích lũy và tăng dần. Ðường máu hạ xuống gần mức bình thường sau 4-8 tuần điều trị. Sau đó, tác dụng hạ đường máu được duy trì với liều mướp đắng bằng một nửa liều ban đầu.
    Hoạt chất chính trong mướp đắng có tác dụng hạ đường máu là charantin, glycosid steroid.
    Bài thuốc: Dùng quả mướp đắng đã phát triển to nhưng còn xanh, thái mỏng, phơi nắng cho khô. Khi dùng tán thành bột mịn. Mỗi ngày uống 12-20g, chia làm 2-3 lần, sau bữa ăn, sắc với nước. Sau khoảng 2 tháng dùng thuốc, khi đường máu hạ xuống gần mức bình thường, giảm liều thuốc xuống một nửa để duy trì.
    Nếu có nhu cầu dự trữ mướp đắng khô lâu ngày để dùng dần thì để nơi khô mát, thỉnh thoảng đem phơi hay sấy khô để tránh mốc mọt.
    6. Nhân sâm
    Nhân sâm có tác dụng hạ đường máu trên động vật đã được gây ÐTÐ thực nghiệm. Trong thử nghiệm lâm sàng trên bệnh nhân ÐTÐ, nhân sâm có tác dụng hiệp đồng với thuốc hóa dược. Nếu dùng nhân sâm phối hợp với thuốc hóa dược thì có thể giảm bớt liều thuốc này, thời gian hạ đường máu được kéo dài hơn.
    Trong y học cổ truyền, nhân sâm được dùng phối hợp với một số dược thảo khác chữa ÐTÐ.
    Bài thuốc: Nhân sâm 15g, thiên môn 30g, sơn thù 25g, câu kỷ 15g, sinh địa 15g. Sắc riêng nhân sâm và cô thành 30ml cao, sắc chung 4 dược liệu còn lại và cô thành 170ml cao lỏng, trộn lẫn hai cao này. Mỗi lần uống 20ml, ngày dùng 2-3 lần trước bữa ăn.
    7. Sinh địa
    Sinh địa có tác dụng hạ đường máu trên động vật ÐTÐ. Hoạt chất hạ đường máu là các glycosid iridoid A, B, C và D. Sinh địa cũng có tác dụng làm chậm sự phát triển biến chứng đục thể thủy tinh ở mắt và giảm các triệu chứng bệnh thần kinh ngoại biên ở bệnh nhân ÐTÐ. Sinh địa được dùng phối hợp với các vị khác trong y học cổ truyền để trị ÐTÐ.
    Bài thuốc:
    a/ Sinh địa 800g, hoàng liên 600g. Giã sinh địa vắt lấy nước, tẩm vào hoàng liên, phơi khô rồi lại tẩm, làm như vậy cho đến hết nước sinh địa. Tán nhỏ hoàng liên, làm thành viên. Mỗi lần uống 10g, ngày dùng 2-3 lần.
    b/ Sinh địa, hoài sơn, phục linh, mỗi vị 15g; Sơn thù, trạch tả, ngưu tất, mỗi vị 10g; Hạt mã đề, mẫu đơn bì, mỗi vị 6g. Sắc uống ngày một thang.
    8. Thiên môn
    Trong y học cổ truyền, thiên môn được dùng phối hợp với các dược thảo khác trị ÐTÐ.
    Bài thuốc: Thiên môn 12g, thạch cao 20g; Sa sâm, mạch môn, hoài sơn, bạch biển đậu, ý dĩ, mỗi vị 12g; Tâm sen 8g. Sắc uống ngày 1 thang.

    View more