Posts in : kiến thức - Máy đo đường huyết

  • Th8
    17

    Làm sao giảm đau thần kinh do bệnh tiểu đường ? Kiến thức


    by Le Giang
    posted in Kiến thức
    No comments yet

    Làm sao giảm đau thần kinh do bệnh tiểu đường

    Theo một nghiên cứu đăng trên Tạp chí Biến chứng bệnh tiểu đường (Mỹ), nếu bị đau thần kinh ở bàn chân, chân, bàn tay, cánh tay do bệnh tiểu đường thì tập luyện cơ thể là cách hữu hiệu để kiểm soát các chứng bệnh thần kinh ngoại biên này.

    Làm sao giảm đau thần kinh do bệnh tiểu đường

    Bà Dace L. Trence, giám đốc  Trung tâm chăm sóc bệnh tiểu đường tại Trung tâm Y khoa thuộc Đại học Washington ở TP. Seattle (Mỹ) thực hiện nghiên cứu trên. Bà cho biết: “Những người mắc bệnh tiểu đường có 60% khả năng bị đau thần kinh”.

    Triệu chứng của bệnh lý này được các bệnh nhân mô tả là thường kéo dài không dứt, cơn đau “cứ đến rồi đi”. Việc tiếp xúc với ga trải giường, vớ chân cũng có thể gây ra đau. Cơn đau có lúc dữ dội, lúc nhoi nhói như kim chích, có khi đau như dao đâm hoặc làm người bệnh cảm thấy tê cứng ở chân…

    Tuy nhiên, quá trình tổn tương thần kinh sẽ diễn ra chậm lại nếu bệnh nhân tiểu đường chịu khó tập đi bộ trong thời gian một tiếng, thường xuyên bốn lần mỗi tuần. Hiệu quả của việc tập luyện không thể đạt được trong một sớm một chiều, do đó các bệnh nhân cần kiên nhẫn.

    Trước khi tập luyện, cần chú ý đến yếu tố an toàn. Nếu bị đau thần kinh, nên bắt đầu tập các bài tập theo lời khuyên của bác sĩ. Nếu lượng đường trong máu vượt quá mức 250, hãy thận trọng khi tập luyện. Hãy kiểm tra lượng glucose trong máu trước và sau khi tập luyện để biết cơ thể và loại thuốc mà mình đang uống phản ứng ra sao đối với việc tập

    1. Thực hiện bài tập nhẹ

    • Nếu bị đau thần kinh ngoại biên hoặc mất cảm giác, bệnh nhân có thể tập nhẹ, chẳng hạn tham gia các lớp học aerobic hoặc đi bơi, tập yoga, đạp xe đạp…
    • Khi bơi, nước sẽ hỗ trợ cơ bắp, xương và các khớp nối. Không giống chạy bộ, bơi giúp tránh các tác động mạnh vào bàn chân, đầu gối và hông.
    • Yoga là bài tập lý tưởng, đặc biệt đối với những người cần kiểm soát vận động mà không phải chịu các tác động mạnh như chạy bộ trên vỉa hè.
    • Đạp xe cũng là bài tập nhẹ an toàn. Bệnh nhân có thể đạp xe ra ngoài để thay đổi không khí hoặc đạp xe tại chỗ với bạn bè ở một câu lạc bộ thể dục.

    2. Hoạt động 30 phút mỗi ngày và năm ngày/tuần.

    View more
  • Th3
    10

    Các phương pháp mới điều trị bệnh tiểu đường


    by Le Giang
    posted in Kiến thức
    No comments yet

    Theo Tổ chức Y tế thế giới, số người bị tiểu đường trên thế giới sẽ tăng lên 300 triệu vào năm 2025 so với 150 triệu người hiện nay. Tiểu đường có nhiều dạng khác nhau. Các dạng chính là tiểu đường loại 1, tiểu đường loại 2, và tiểu đường thời kỳ thai nghén.

    Tiểu đường loại 1, cũng được gọi là tiểu đường phụ thuộc insulin, là căn bệnh phá huỷ các tế bào beta trong tuyến tuỵ có chức năng tạo hormon insulin. Mặc dù dạng bệnh này phổ biến ở trẻ em, hoặc thanh niên, song nó có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, và chiếm 10% tổng số ca tiểu đường. Triệu chứng của tiểu đường loại 1 là thường xuyên đi tiểu, cực đói và khát, cơ thể yếu và luôn cảm thấy mệt mỏi.

    Đối với tiểu đường loại 2, cơ thể của bệnh nhân không tạo đủ insulin, hoặc không sử dụng đúng mức. Loại tiểu đường này chiếm gần 90% tổng số ca tiểu đường. Dạng bệnh này có nhiều nguyên nhân như di truyền, tuổi tác và cân nặng. Nó thường xảy ra ở những người béo phì trên 45 tuổi. Giảm cân và tập luyện thể dục đều đặn giúp bệnh nhân kiểm soát được tiểu đường loại 2. Tiểu đường loại 2 phát triển chậm. Các triệu chứng và biến chứng phát triển theo thời gian. Ngày càng có nhiều thanh niên mắc dạng bệnh này. Triệu chứng bao gồm mệt mỏi, mờ mắt, da khô và ngứa, hay có cảm giác đói và khát, số lần tiểu tiện tăng, có cảm giác râm ran hoặc mất cảm giác ở bàn tay hoặc bàn chân, nhiễm trùng không khỏi ở da, âm đạo hoặc bàng quang.

    nguy-co-mac-tieu-duong

    Tiểu đường thời kỳ thai nghén. Cơ thể của người phụ nữ thay đổi nhiều trong thời kỳ mang thai. Thai phụ có thể mắc dạng tiểu đường này. Mọi phụ nữ mang thai nên kiểm tra để phát hiện tiểu đường trong tháng mang thai thứ sáu (tuần thứ 24-28). Chỉ có khoảng 2-5% thai phụ bị tiểu đường thời kỳ thai nghén.
    Tiểu đường thai nghén hay xảy ra nhiều hơn ở thai phụ béo phì, hoặc ”cứng” tuổi. Nó phổ biến ở những phụ nữ Mỹ gốc Phi, phụ nữ Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và phụ nữ da đỏ. 35-50% bệnh nhân tiểu đường thời kỳ thai nghén về sau sẽ mắc tiểu đường loại 2. Duy trì chế độ ăn phù hợp, tập thể dục và giảm trọng lượng cơ thể có thể giảm nguy cơ mắc bệnh.

    Các phương pháp mới trị tiểu đường

    Phương pháp mới nhất trị tiểu đường hiện đang được thử nghiệm, đó là cấy tế bào tạo insulin của lợn cho bệnh nhân. Loại tế bào này không kích thích phản ứng miễn dịch bình thường của bệnh nhân. Các nhà khoa học Mỹ đã cấy tế bào insulin của lợn vào cơ thể 12 trẻ em bị tiểu đường loại 1. Không một đối tượng
    nào uống thuốc chống đào thải. Kết quả cho thấy, một số trẻ em có những dấu hiệu hồi phục rõ rệt. Một em không cần tiêm insulin hàng ngày. Một em khác không cần tiêm trong khoảng thời gian 6 tháng, và hiện mức insulin cần tiêm giảm 75% so với trước khi cấy ghép. 6 bệnh nhân khác cũng có xu hướng tốt lên.
    Song song với cấy ghép tế bào tạo insulin, thí nghiệm cấy ghép tế bào tuyến tuỵ cho người cũng đem lại kết quả đầy hứa hẹn. Đối với cấy ghép tế bào tuyến tuỵ, bác sĩ lấy tế bào từ tuyến tuỵ của một người hiến và ghép cho một người khác. Ngay sau khi cấy ghép, tế bào mới bắt đầu tạo insulin. Những nhà nghiên cứu hy vọng cấy ghép tế bào tuyến tuỵ, hoặc tế bào tạo insulin của lợn, sẽ giúp bệnh nhân tiểu đường loại 1 sống mà không phải phụ thuộc vào các mũi tiêm insulin. 4 trong số 5 bệnh nhân tiểu đường không cần phải tiêm insulin sau khi được cấy ghép các tế bào tuyến tuỵ của người. 28 trong số 35 bệnh nhân được cấy ghép
    năm ngoái không cần tiêm insulin trong thời gian 1 năm (tỷ lệ thành công 80% so với 11% trước năm 1997 và 14% trước năm 2000). Giới khoa học coi đây là bước đột phá, vì các thử nghiệm cấy tế bào tạo insulin trước kia đều không mấy khả quan. Thành công này mở đường cho việc cấy ghép tế bào tuyến tuỵ trên quy mô lớn.

    Thuốc ngăn chặn tiểu đường

    Ngoài liệu pháp cấy ghép tế bào, giới khoa học cũng nỗ lực phát triển các dòng thuốc trị tiểu đường.
    Trong một cuộc thử nghiệm kéo dài nhiều năm, nhóm nghiên cứu thuộc Đại học Colombia và Đại học California, San Francisco, đã sử dụng một loại thuốc có tác dụng ức chế hệ miễn dịch. Nó là một kháng thể tấn công các tế bào nhất định trong hệ miễn dịch – những tế bào tiêu diệt các tế bào tạo insulin. Đây là
    quá trình xảy ra ở bệnh tiểu đường. Bằng cách ngăn chặn những tế bào ”độc” này, cơ thể có thể tiếp tục tiết ra một lượng insulin và không phải phụ thuộc vào thuốc tiêm, cho phép người bệnh kiểm soát tiểu đường tốt hơn. Điều này cũng đồng nghĩa với việc người bệnh ít gặp phải các biến chứng như bệnh tim, mắt hoặc thận. Các liệu pháp tương tự đã được thử nghiệm trong quá khứ. Tuy nhiên, không giống như loại thuốc mới, chúng gây ra những tác dụng phụ. 12 bệnh nhân tuổi từ 7 tới 27 được tiêm loại thuốc mới hàng ngày trong vòng nửa tháng ngay sau khi được chuẩn đoán mắc tiểu đường loại 1. Nhóm nghiên cứu cũng giám sát 12 bệnh nhân khác không nhận được loại thuốc trên. Sau một năm, khả năng tiết insulin của 9 người được tiêm thuốc chỉ suy giảm chút ít. Trái lại, khả năng tiết insulin của 10 trong số 12 người không được tiêm bị giảm mạnh. Những người được tiêm loại thuốc trên có những dấu hiệu cải thiện rõ rệt
    về tình trạng bệnh tật. Hiện nhóm đang dự kiến tiến hành nghiên cứu trên quy mô lớn.

    thuoc
    DiaPep 277, một loại thuốc khác, được nghiên cứu bởi các nhà khoa học Viện nghiên cứu Weizmann (Israel), trong những lần dùng thử đầu tiên đã ngăn chặn hiệu quả quá trình hệ miễn dịch của bệnh nhân tiểu đường loại 1 tấn công các tế bào beta sản sinh insulin trên tuyến tuỵ. Tiến sĩ Itamar Raz, Đại học dược
    Hadassah-Hebrew (Israel) cho biết: ‘‘Sự phá huỷ các tế bào beta đã được ghăn chặn hoàn toàn. Kết luận này dựa trên theo dõi sau 10 tháng, lượng insulin tiết ra của người bệnh không giảm đi và còn có dấu hiệu phục hồi’’.

    Thực phẩm và tiểu đường

    Trong khi chờ đợi các loại thuốc mới cũng như kỹ thuật cấy ghép tế bào được hoàn thiện, bệnh nhân tiểu đường và người khoẻ mạnh có thể trông cậy vào chính các thực phẩm sẵn có để phòng và chữa bệnh.
    Ăn quả hạch hoặc bơ lạc nhiều lần một tuần có tác dụng hạ thấp nguy cơ mắc tiểu đường loại 2, ít nhất là đối với phụ nữ. Quả hạch giàu chất béo không bão hoà và các chất dinh dưỡng khác, góp phần ổn định mức glucose và insulin.

    qua hach
    Phụ nữ uống 2 ly rượu mỗi ngày có lượng insulin ổn định hơn mức insulin ở những phụ nữ chỉ uống nước cam và dường như bất kỳ loại rượu nào cũng có tác dụng này.
    Chế độ ăn với quá nhiều hamburger và thịt rán sẽ tăng nguy cơ mắc bệnh tiểu đường loại II ngay cả ở những người bệnh không chịu tác dụng của các yếu tố rủi ro khác như béo phì và bệnh di truyền.

    View more
  • Th2
    27

    Trái cây cho người đái tháo đường


    by Le Giang
    posted in Kiến thức
    No comments yet

    Người đái tháo đường (ĐTĐ) nên chọn loại trái cây có nhiều chất xơ, lượng đường fructose cao, chỉ số đường huyết thấp và nên ăn đúng suất theo nhu cầu năng lượng của mình.

    qua

    Người đái tháo đường nên chọn loại trái cây có trị số đường huyết thấp
    Nguồn dinh dưỡng
    Trái cây là nguồn cung cấp nhiều dưỡng chất quý báu như:
    – Các loại vitamin A, B, C…

    – Muối khoáng như Ca++, Mg++, K+…
    – Đường và nhiều chất xơ.
    – Các hóa chất sinh học như polyphenol, resveratrol và quercetin, pectin… giúp cho cơ thể chống lại bệnh ung thư, bệnh tim mạch và béo phì…
    Với những tính năng có lợi cho sức khỏe như thế thì không có lý do gì nghiêm cấm người đái tháo đường (ĐTĐ) ăn trái cây mỗi ngày. Vấn đề mà người ĐTĐ lo ngại khi ăn trái cây là họ sợ “chất ngọt có trong trái cây sẽ làm cho đường huyết của mình gia tăng và trở nên khó kiểm soát”. Các mối quan ngại khác: không biết nên ăn loại trái cây nào, ăn bao nhiêu và khi nào ăn thì tốt…
    – Từ trái cây tươi, người ta có thể đem sấy hay phơi khô để dùng quanh năm, làm sinh tố hoặc ép lấy nước uống, bảo quản lạnh, đóng lon, ướp đường… rất đa dạng.
    Một số khái niệm cần biết
    – Chất xơ: có nhiều ở lớp vỏ, lớp dưới vỏ, phần xơ thịt và hạt. Chất xơ có khả năng làm chậm quá trình hấp thu đường, tránh hiện tượng tăng đường huyết quá nhiều sau ăn. Các loại trái cây giàu chất xơ (kể cả lớp vỏ): táo (2,5%), lê (2,1%), mơ (2,1%), trái kiwi (2,1%), quả lựu (3,4%) và trái bơ (6,7%)…
    – Chất đường: hai loại đường có nhiều trong trái cây là glucose và fructose. Ăn trái cây chứa nhiều đường glucose sẽ không có lợi cho người ĐTĐ vì nó sẽ làm tăng đường huyết và tăng nhu cầu sử dụng insulin. Khác với glucose, quá trình hấp thu và chuyển hóa đường fructose không đòi hỏi sự hiện diện của insulin. Vì thế, người ĐTĐ nên chọn loại trái cây nào có nhiều fructose và ít glucose (tỷ lệ fructose/glucose lớn hơn 2) như: táo, lê, ổi và xoài…
    – Chỉ số đường huyết-CSĐH (glycemic index- GI): chỉ số phản ánh tốc độ gia tăng đường trong máu sau khi dùng một loại thực phẩm nào đó. Người ta lấy bánh mì trắng hoặc glucose làm chuẩn (GI=100) để phân chia CSĐH của thực phẩm thành ba mức: cao (GI từ 70 trở lên), trung bình (GI từ 55-69), thấp (GI từ dưới 55). Nếu ăn trái cây có CSĐH cao sẽ làm cho đường huyết tăng cao ngay sau ăn. Vì thế, người ĐTĐ nên chọn ăn loại trái cây có CSĐH càng thấp càng tốt.
    Điều cần nên lưu ý là CSĐH không tương ứng với vị ngọt. Có nghĩa là không nên dựa vào độ ngọt khi nếm một loại trái cây nào đó để suy ra CSĐH của nó. Trái cây ngọt không đồng nghĩa là nó có CSĐH cao; và ngược lại trái cây lạt không có nghĩa là có CSĐH thấp.
    – Suất trái cây: là khối lượng của một loại trái cây hay nước ép nào đó mà sau khi ăn vào có khả năng cung cấp 15g chất đường, tương đương 60Kcalo.
    – Trong chế độ ăn hàng ngày, không phải lúc nào cũng có thể cân đo đong đếm chính xác được. Vì thế, ta chỉ có thể ước lượng trung bình một suất trái cây khoảng bao nhiêu mà thôi.
    Nên ăn mấy suất trái cây mỗi ngày?
    Mỗi ngày người ĐTĐ có thể ăn từ 2 – 4 suất trái cây tùy theo nhu cầu năng lượng trong ngày.

    Những người có nhu cầu năng lượng 1.200 – 1.600 Kcalo/ngày: 2 suất.
    Đó là các đối tượng sau:
    – Phụ nữ tầm vóc nhỏ con hoạt động nhiều.
    – Phụ nữ tầm vóc nhỏ đến trung bình muốn giảm cân.
    – Phụ nữ tầm vóc trung bình không làm việc gì nhiều.
    Những người có nhu cầu năng lượng 1.600 – 2.000Kcalo/ ngày: 3 suất.
    – Phụ nữ tầm vóc to muốn giảm cân.
    – Nam giới nhỏ con có cân nặng bình thường theo chiều cao.
    – Nam tầm vóc trung bình không làm việc gì nhiều.
    – Nam tầm vóc trung bình hoặc lớn con muốn giảm cân.
    Những người có nhu cầu năng lượng 2.000 – 2.400Kcalo/ngày: 4 suất.
    – Nam tầm vóc trung bình hoặc lớn con vận động hoặc lao động nhiều.
    – Nam lớn con có cân nặng phù hợp chiều cao.
    – Phụ nữ tầm vóc trung bình đến lớn con phải vận động hoặc lao động nhiều.
    Nên ăn vào lúc nào cho tốt?
    – Theo nghiên cứu ở Mỹ, ăn trái cây một giờ trước bữa ăn có tác dụng giảm béo và giúp tiêu hóa hiệu quả.
    – Nếu ăn cơm no rồi mà ăn thêm trái cây, lượng đường tổng cộng trong bữa ăn sẽ tăng, đường huyết tăng cao và nhanh không có lợi cho sức khỏe, nhất là người bị ĐTĐ.

    View more