Posts in : Kiến thức - Trang 4 trên 5 - Máy đo đường huyết

  • Th6
    02

    Có thể chữa được bệnh tiểu đường nếu ăn chay?


    by Le Giang
    posted in Kiến thức
    No comments yet

    Có thể chữa được bệnh tiểu đường nếu ăn chay ?

    Hiện nay một số người bị tiểu đường không đi chữa trị mà lại chuyển sang chế độ ăn chay hoàn toàn vì cho rằng chữa được bệnh. Điều này có đúng không?

    [IMG]

    Theo Phó giáo sư Nguyễn Thy Khuê, Chủ tịch Hội Nội tiết và Đái tháo đường Việt Nam cho biết, với bệnh nhân tiểu đường việc điều chỉnh chế độ ăn là một trong những mục tiêu quan trọng. Tuy nhiên, hiện nay một số người bệnh chưa hiểu đúng về việc ăn chay khi bị tiểu đường. Có người cho rằng, người bệnh chỉ ăn chay, ăn quá nhiều tinh bột thì không tốt. Điều này không hoàn toàn đúng.

    Khẩu phần ăn của bệnh nhân tiểu đường cần đảm bảo: chất bột đường chiếm 50 – 60%, nên chọn loại đường hấp thụ chậm, nhiều xơ như gạo lứt, chất đạm chiếm 15%, khoảng 1 gam tính trên mỗi kg cân nặng một ngày, mỡ động vật ít dưới 7%.

    Nếu ăn chay mà vẫn đảm bảo tỷ lệ như trên thì không vấn đề gì. Ngược lại, nhiều người lại nghĩ ăn chay là để chữa bệnh cũng không đúng. Ăn chay không phải là thuốc nên chắc chắn không thể dùng ăn chay để thay thuốc chữa bệnh. Nhiều nhà sư ăn chay nhưng vẫn có người bị tiểu đường.

    Ngoài ra, khi ăn chay người bệnh có nguy cơ thiếu một số vi chất cần thiết như sắt, kẽm, vitamin B12, vitamin D, canxi… Vì thế, có thể khắc phục bằng nhóm thực phẩm chay có trứng sữa, ăn chay linh hoạt, ăn chay bán phần hoặc uống bổ sung vitamin và khoáng chất.

    an chay

    Người bệnh cần tính toán để có một chế độ ăn hợp lý, cái gì quá cũng là không tốt. Như trái cây rất tốt nhưng cũng chỉ ăn vừa đủ, không ăn quá nhiều, vì như thế một lượng đường fructose đáng kể trong trái cây biến thành mỡ. Như thế lại thành ra có hại.

    Bên cạnh đó, nhiều nguời bệnh đang chịu ảnh hưởng nhiều của quảng cáo, gây hiện tượng nhiễu thông tin. Họ nghĩ ăn cái này, uống cái kia thì có thể khỏi được bệnh, trong khi đó đây là bệnh chỉ có thể ổn định được.

    Ăn uống đúng cách, luyện tập thường xuyên, uống thuốc đầy đủ thì đường ổn định, biến chứng sẽ rất ít xảy ra. Ngược lại nếu bắt đầu thờ ơ điều trị, ăn ẩu trở lại, ít vận động, người tăng cân trở lại, hậu quả kéo theo là biến chứng.

    View more
  • Th6
    02

    Bệnh đái tháo đường là gì?


    by Le Giang
    posted in Kiến thức
    No comments yet

    Bệnh đái tháo đường là gì

    Bệnh Đái tháo đường (ĐTĐ) còn gọi là bệnh tiểu đường gây ra những hậu quả nặng nề cho người bệnh khi đường huyết (ĐH) luôn nằm trong vùng nguy hiểm. Những tổn thương do bệnh ĐTĐ vẫn tiếp diễn ở cơ thể bệnh nhân cho dù người bệnh cảm thấy khỏe, đến khi có triệu chứng rõ ràng thì điều trị thường là muộn.

    1. Bệnh đái tháo đường là gì?

    Đái tháo đường là tình trạng tăng đường trong máu mạn tính, không lây nhiễm, có tính di truyền, do thiếu Insulin (tụy tạng không tiết Insulin hay Insulin hoạt động không hiệu quả). Insulin là một chất do tụy tạng tiết ra có tác dụng làm cho đường trong máu luôn ở mức ổn định. Thông thường bác sĩ chẩn đoán người bệnh bị ĐTĐ khi đường huyết lúc đói ít nhất qua 2 lần thử máu lớn hơn hay bằng 126mg/dL (7mmol/L). Có 2 dạng ĐTĐ chính:

    – ĐTĐ típ 1 (người bệnh không có Insulin)

    – ĐTĐ típ 2 (người bệnh có Insulin, nhưng Insulin hoạt động không hiệu quả)

    Bệnh đái tháo đường là gì

    2. Bệnh đái tháo đường gây ra những biến chứng nào cho người bệnh?

    Bệnh ĐTĐ có thể gây những biến chứng sau:

    • Biến chứng cấp khi đường huyết tăng quá cao:

    – Hôn mê do nhiễm ceton acid

    – Hôn mê do tăng áp lực thẩm thấu

    • Biến chứng mạn do ĐTĐ gồm:

    – Biến chứng mạch máu nhỏ: ở  mắt, thận, thần kinh (ở mắt gây viêm võng mạc, đục thủy tinh thể, mù đột ngột; ở thận gây viêm thận, suy thận; ở thần kinh gây teo cơ, mất hoặc tăng cảm giác đau, có cảm giác như điện giật, tê tay chân, liệt các dây thần kinh sọ não gây sụp mi, lé mắt, méo miệng hoặc gây bất lực ở nam giới…)

    – Biến chứng mạch máu lớn: ở tim, mạch máu ngoại biên, não (gây xơ cứng động mạch, thiếu máu cơ tim, nhồi máu cơ tim, cao huyết áp, tai biến mạch máu não dẫn đến đột quỵ…)

    – Biến chứng khác: da, xương khớp, nhiễm trùng…

    – Biến chứng loét, nhiễm trùng, biến dạng bàn chân của người đái tháo đường

    Mọi người bệnh ĐTĐ đều có thể bị các biến chứng mạn. Tỷ lệ biến chứng mạn gia tăng tùy thuộc vào tình trạng mất cân bằng đường huyết và thâm niên của bệnh.

    3. Ai có nguy cơ bị bệnh đái tháo đường? Làm sao phát hiện bệnh?

    Để phát hiện sớm bệnh đái tháo đường cần xét nghiệm đường huyết định kỳ:

    a. Xét nghiệm đường huyết lúc đói ở tuổi từ 45 trở đi. Nếu kết quả bình thường, tốt nhất thử lại mỗi năm.

    b. Xét nghiệm đường huyết lúc đói ở tuổi trẻ hơn và thường xuyên hơn khi có 1 trong các yếu tố sau:

    – Cha mẹ hay anh chị em ruột bị bệnh ĐTĐ

    – Không vận động thể lực

    – Dư cân hay béo phì

    – Cao huyết áp

    – Rối loạn mỡ máu

    – Đã được chẩn đoán có rối loạn dung nạp đường hay rối loạn đường huyết lúc đói

    – Sinh con to trên 4kg hay đã được chẩn đoán ĐTĐ trong thai kỳ

    – Có bệnh tim mạch hay tai biến mạch máu não

    Ngoài ra cần đến khám ở các cơ sở y tế để được xét nghiệm đường huyết khi có các triệu chứng nghi ngờ mắc bệnh đái tháo đường như: mờ mắt, sụt cân, vết thương lâu lành, đau nhức, ngứa, tiểu nhiều, khát nước, bất lực ở nam giới…

    4. Những yếu tố nào ảnh hưởng đến đường huyết của người bệnh?

    Đường huyết của người bệnh dao động trong ngày, có nhiều yếu tố làm cho đường huyết tăng lên hoặc giảm xuống. Đường huyết bị ảnh hưởng bởi:

    – Thức ăn, kích xúc tâm lý (stress), bệnh phối hợp: làm đường huyết tăng lên

    – Insulin, thuốc uống, luyện tập thể lực: giúp giảm đường huyết

    Lưu ý là mỗi người bệnh ĐTĐ sẽ đáp ứng khác nhau với các yếu tố nêu trên.

    Bệnh đái tháo đường là gì

    5. Vùng đường huyết nguy hiểm của bệnh ĐTĐ là gì?

    Nhiều nghiên cứu khoa học đã chứng minh bệnh ĐTĐ có những vùng đường huyết nguy hiểm, đó là khi đường huyết quá thấp hay quá cao.

    Đường huyết xuống thấp dưới 60mg/dL dễ đưa người bệnh đến hôn mê hoặc thậm chí tử vong nếu không được điều trị kịp thời, còn khi đường huyết thường xuyên tăng cao trên 180mg/dL thì dễ gây ra các biến chứng ở mắt, thận, thần kinh, mạch máu, tim, não… Chính vì vậy người bệnh phải được điều trị sao cho đạt được đường huyết nằm trong vùng an toàn.

    Như vậy:

    – Đường huyết ổn định, nằm ngoài vùng nguy hiểm, gần mức bình thường sẽ giúp bệnh nhân sống khỏe mạnh và ngăn ngừa biến chứng

    – Đường huyết hạ quá mức đưa người bệnh đến hôn mê do hạ đường huyết

    – Đường huyết cao đưa người bệnh đến các biến chứng mạn như mù, đột quỵ, bệnh tim mạch, đoạn chi…

    – Đường huyết quá cao gây ra các biến chứng cấp như hôn mê nhiễm toan ceton, hôn mê tăng áp lực thẩm thấu…

    – Đường huyết dao động nhiều – lúc quá cao, lúc quá thấp-cũng đưa đến các biến chứng, chất lượng sống kém.

    6. Vì sao người bệnh không quan tâm đến vùng đường huyết nguy hiểm?

    Vùng đường huyết nguy hiểm là một khái niệm không hề mới đối với các thầy thuốc, nhưng đối với bệnh nhân ĐTĐ thì còn rất nhiều người chưa biết, hoặc chưa hiểu rõ tầm quan trọng, ý nghĩa của khái niệm này. Nguyên do là người bệnh quá chủ quan và thiếu hiểu biết về bệnh ĐTĐ. Đây chính là trở ngại lớn nhất của người thầy thuốc trong việc điều trị ổn định bệnh ĐTĐ cho người bệnh.

    Một số điều chưa đúng thường gặp ở người bệnh là:

    – Cho rằng bệnh mình nhẹ vì vẫn thấy khỏe, bình thường

    – Không quan tâm đến đường huyết và rất ít khi làm xét nghiệm, có khi 2-3 tháng hoặc thậm chí cả năm mới thử đường huyết 1 lần.

    – Không tái khám, sử dụng thuốc không đúng, hoặc sử dụng 1 toa thuốc từ năm này qua năm khác.

    Nhiều người bệnh cho rằng đường huyết của mình không cao do vẫn cảm thấy khỏe hoặc thử nước tiểu không thấy có đường. Trong thực tế, chỉ khi đường huyết tăng hơn 170mg/dL thì mới xuất hiện đường trong nước tiểu và khi đường huyết tăng rất cao (thường trên 300mg/dL) thì mới có các triệu chứng như mệt mỏi, tiểu nhiều, khát nước, khô miệng… Còn khi đường huyết đã tăng cao nhưng thấp hơn con số trên (tức là từ 126mg/dL đến dưới 300mg/dL), thì vẫn chưa biểu hiện triệu chứng do vậy người bệnh thường không cảm nhận được mặc dầu bệnh đã gây biến chứng lên các cơ quan khác trong cơ thể. Hậu quả là:

    – Khoảng 50% bệnh nhân ĐTĐ típ 2 lúc mới phát hiện đã có ít nhất 1 biến chứng

    – Đa số bệnh nhân ĐTĐ típ 2 sống hàng tháng, hàng năm với mức đường huyết tăng cao mà không hề biết rằng nhiều bộ phận trong cơ thể họ đang bị tổn thương dần dần cho đến khi triệu chứng xuất hiện

    – Bệnh được phát hiện muộn, điều trị rất tốn kém, hiệu quả thấp. Điều trị dù tích cực cũng không thể hồi phục, khó ngăn được biến chứng tiếp diễn và để lại tàn phế.

    Đó chính là lý do tại sao ĐTĐ diễn tiến âm thầm và gây ra nhiều tổn thương ở các cơ quan trọng yếu của cơ thể và cũng vì vậy bệnh ĐTĐ được gọi là “sát thủ thầm lặng”

    7. Người bệnh làm gì để không bị rơi vào vùng đường huyết nguy hiểm?

    Người bệnh cần phải tự theo dõi đường huyết và biết mức đường huyết cần đạt (vùng an toàn) cũng như biết xử trí khi đường huyết dao động nhiều, quá cao hay quá thấp.

    8. Tự theo dõi đường huyết là gì?

    Tự theo dõi đường huyết là biện pháp đo đường huyết bằng máy tại nhà, ghi lại và đánh gíá các trị số đường huyết đo được. Biết được mức đường huyết của mình sẽ giúp người bệnh đạt được mục tiêu điều trị và không bị rơi vào vùng đường huyết nguy hiểm.

    Số lần cần thử đường huyết trong ngày còn tùy thuộc vào mục tiêu đường huyết cần đạt, cách thức điều trị và tình trạng bệnh nhân

    Đối với ĐTĐ típ 1: nếu đường huyết dao động nhiều và đang điều chỉnh liều Insulin, nên thử 3-4 lần mỗi ngày

    Đối với ĐTĐ típ 2:

    – Đường huyết ổn định không cần thử thường xuyên

    – Đường huyết chưa ổn định nên thử ít nhất 2 lần mỗi ngày

    Giảm số lần thử lại khi đường huyết ổn định trở lại

    Tăng số lần thử đường huyết trong các trường hợp:

    – Trong giai đoạn căng thẳng/stress, đang có thêm bệnh khác

    – Nghi ngờ hạ đường huyết

    – Hoạt động thể lực nhiều

    – Đường huyết đang ở giai đoạn quá cao hay quá thấp

    – Thay đổi điều trị, chế độ ăn, cách thức vận động

    9. Người bệnh cần làm gì khi có đường huyết bất thường?

    Mức đường huyết được xem là bất thường khi:

    – Lúc đói, đường huyết dưới 70 mg/dL (3,9mmol/L)

    – Sau ăn 2 giờ, đường huyết trên 200mg/dL (11,1mmol/L)

    Khi có mức đường huyết bất thường:

    – Trường hợp đường huyết thấp: người bệnh nên ăn thêm bánh, kẹo, nước đường, sữa.

    – Trường hợp đường huyết tăng: người bệnh nên xem lại chế độ ăn, loại thức ăn, có quên uống thuốc không…

    Sau đó nên đi khám bệnh để được bác sĩ tư vấn và điều chỉnh thuốc.

    10. Vùng đường huyết an toàn là bao nhiêu?

    Theo Hiệp hội Đái tháo đường của Mỹ, mức đường huyết an toàn đối với đa số người bệnh ĐTĐ là:

    – Đường huyết lúc đói: 90-130mg/dL (5,0mmol/L-7,2mmol/L)

    – Đường huyết sau ăn 1-2 giờ: nhỏ hơn 180mg/dL (10mmol/L)

    – Đường huyết trước khi đi ngủ: 110mg/dL-150mg/dL (6,0mmol/L-8,3mmol/L)

    Lưu ý là mức đường huyết an toàn, thích hợp còn tùy thuộc vào tuổi tác, mức độ các biến chứng và các bệnh lý kèm theo. Vì vậy, Bác sĩ sẽ quyết định mức đường huyết người bệnh cần đạt là bao nhiêu.

    11. Một số lời khuyên của bác sĩ dành cho người bệnh ĐTĐ

    Ngay từ lúc được chẩn đoán bệnh ĐTĐ, người bệnh cần phải biết tự chăm sóc và theo dõi bệnh hằng ngày bằng những cách sau:

    – Tuân thủ chế độ ăn hợp lý

    – Luyện tập thể dục hằng ngày, chọn loại hình an toàn và hiệu quả nhất. Đi bộ khoảng 30 phút mỗi ngày có vẻ phù hợp với đa số bệnh nhân ĐTĐ

    – Duy trì cân nặng hợp lý

    – Dùng thuốc điều trị ĐTĐ (uống, tiêm) đúng cách, đúng theo hướng dẫn của thầy thuốc

    – Tự theo dõi đường huyết, huyết áp

    – Kiểm tra, chăm sóc bàn chân hàng ngày

    – Chải răng và nướu (lợi) hằng ngày

    – Ngưng hút thuốc lá

    – Khám mắt và xét nghiệm định kỳ…

    Khi thực hiện những biện pháp này sẽ giúp người bệnh kiểm soát tốt được đường huyết của mình và phát hiện sớm các biến chứng, giúp kéo dài và gia tăng chất lượng cuộc sống cho người bệnh.

    12. Kết luận:

    Bệnh Đái tháo đường ngày càng gia tăng và có nhiều biến chứng gây tàn phế cho người bệnh, điều trị lại tốn kém nhất là khi đã có biến chứng. Do vậy, việc phòng ngừa biến chứng là rất quan trọng vì cơ thể người bệnh không thể trở về tình trạng bình thường như trước kia khi đã xuất hiện biến chứng. Người bệnh hãy cùng với thầy thuốc và gia đình cố gắng giải quyết thách thức hiện nay của bệnh ĐTĐ: đó là làm thế nào để giữ đường huyết của mình ở mức gần bình thường vì việc kiểm soát tốt đường huyết, đưa đường huyết ra ngoài vùng nguy hiểm sẽ giúp người bệnh sống khoẻ mạnh và giảm biến chứng của bệnh ĐTĐ.

    BS Trần Thị Bích Thủy

    BV. Nguyễn Tri Phương

    View more
  • Th3
    17

    Những lời khuyên đối với người mắc bệnh tiểu đường


    by Le Giang
    posted in Kiến thức
    No comments yet

    Người mắc bệnh tiểu đường cần phải có một chế độ ăn, uống hợp lý và phải tuân thủ nghiêm ngặt. Dưới đây là một số lời khuyên hữu ích cho người mắc tiểu đường.

    Người mắc bệnh tiểu đường cần giữ thói quen ăn đúng giờ; chỉ ăn nhiều thịt (trong khuôn khổ cho phép) trong 2 bữa; các bữa còn lại ăn rau và các sản phẩm ngũ cốc.
    Các lời khuyên khác:
    1. Loại bỏ thức ăn chứa nhiều mỡ.

    cjsfw9

    2. Về cơ cấu bữa ăn, nên có nhiều thức ăn ít năng lượng (như rau, nấm khô, dưa
    chuột…).
    3. Không được bỏ bữa, ngay cả khi không muốn ăn.
    4. Làm mọi việc để gây cảm giác ngon miệng khi ăn.
    5. Ǎn chậm, nhai kỹ.
    6. Không ăn nhiều, phải luôn nhắc nhủ rằng mình đang thưởng thức đồ ăn.

    7. Chế biến thức ăn dạng luộc và nấu là chính, không rán, rang với mỡ.
    8. Khi cần ăn kiêng và hạn chế số lượng, phải giảm dần thức ăn theo thời gian. Khi đạt mức yêu cầu, nên duy trì một cách kiên nhẫn, không bao giờ được tăng lên.
    9. Phải tôn trọng các nguyên tắc: Thức ăn đa dạng, nhiều thành phần; ăn đủ để có trọng lượng vừa phải; hạn chế chất béo, đặc biệt là mỡ động vật; có một lượng chất xơ vừa phải; hạn chế ăn mặn; tránh các đồ uống có rượu.
    10. Nên có bữa ăn phụ trước khi đi ngủ.

    View more
  • Th3
    10

    Các phương pháp mới điều trị bệnh tiểu đường


    by Le Giang
    posted in Kiến thức
    No comments yet

    Theo Tổ chức Y tế thế giới, số người bị tiểu đường trên thế giới sẽ tăng lên 300 triệu vào năm 2025 so với 150 triệu người hiện nay. Tiểu đường có nhiều dạng khác nhau. Các dạng chính là tiểu đường loại 1, tiểu đường loại 2, và tiểu đường thời kỳ thai nghén.

    Tiểu đường loại 1, cũng được gọi là tiểu đường phụ thuộc insulin, là căn bệnh phá huỷ các tế bào beta trong tuyến tuỵ có chức năng tạo hormon insulin. Mặc dù dạng bệnh này phổ biến ở trẻ em, hoặc thanh niên, song nó có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, và chiếm 10% tổng số ca tiểu đường. Triệu chứng của tiểu đường loại 1 là thường xuyên đi tiểu, cực đói và khát, cơ thể yếu và luôn cảm thấy mệt mỏi.

    Đối với tiểu đường loại 2, cơ thể của bệnh nhân không tạo đủ insulin, hoặc không sử dụng đúng mức. Loại tiểu đường này chiếm gần 90% tổng số ca tiểu đường. Dạng bệnh này có nhiều nguyên nhân như di truyền, tuổi tác và cân nặng. Nó thường xảy ra ở những người béo phì trên 45 tuổi. Giảm cân và tập luyện thể dục đều đặn giúp bệnh nhân kiểm soát được tiểu đường loại 2. Tiểu đường loại 2 phát triển chậm. Các triệu chứng và biến chứng phát triển theo thời gian. Ngày càng có nhiều thanh niên mắc dạng bệnh này. Triệu chứng bao gồm mệt mỏi, mờ mắt, da khô và ngứa, hay có cảm giác đói và khát, số lần tiểu tiện tăng, có cảm giác râm ran hoặc mất cảm giác ở bàn tay hoặc bàn chân, nhiễm trùng không khỏi ở da, âm đạo hoặc bàng quang.

    nguy-co-mac-tieu-duong

    Tiểu đường thời kỳ thai nghén. Cơ thể của người phụ nữ thay đổi nhiều trong thời kỳ mang thai. Thai phụ có thể mắc dạng tiểu đường này. Mọi phụ nữ mang thai nên kiểm tra để phát hiện tiểu đường trong tháng mang thai thứ sáu (tuần thứ 24-28). Chỉ có khoảng 2-5% thai phụ bị tiểu đường thời kỳ thai nghén.
    Tiểu đường thai nghén hay xảy ra nhiều hơn ở thai phụ béo phì, hoặc ”cứng” tuổi. Nó phổ biến ở những phụ nữ Mỹ gốc Phi, phụ nữ Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và phụ nữ da đỏ. 35-50% bệnh nhân tiểu đường thời kỳ thai nghén về sau sẽ mắc tiểu đường loại 2. Duy trì chế độ ăn phù hợp, tập thể dục và giảm trọng lượng cơ thể có thể giảm nguy cơ mắc bệnh.

    Các phương pháp mới trị tiểu đường

    Phương pháp mới nhất trị tiểu đường hiện đang được thử nghiệm, đó là cấy tế bào tạo insulin của lợn cho bệnh nhân. Loại tế bào này không kích thích phản ứng miễn dịch bình thường của bệnh nhân. Các nhà khoa học Mỹ đã cấy tế bào insulin của lợn vào cơ thể 12 trẻ em bị tiểu đường loại 1. Không một đối tượng
    nào uống thuốc chống đào thải. Kết quả cho thấy, một số trẻ em có những dấu hiệu hồi phục rõ rệt. Một em không cần tiêm insulin hàng ngày. Một em khác không cần tiêm trong khoảng thời gian 6 tháng, và hiện mức insulin cần tiêm giảm 75% so với trước khi cấy ghép. 6 bệnh nhân khác cũng có xu hướng tốt lên.
    Song song với cấy ghép tế bào tạo insulin, thí nghiệm cấy ghép tế bào tuyến tuỵ cho người cũng đem lại kết quả đầy hứa hẹn. Đối với cấy ghép tế bào tuyến tuỵ, bác sĩ lấy tế bào từ tuyến tuỵ của một người hiến và ghép cho một người khác. Ngay sau khi cấy ghép, tế bào mới bắt đầu tạo insulin. Những nhà nghiên cứu hy vọng cấy ghép tế bào tuyến tuỵ, hoặc tế bào tạo insulin của lợn, sẽ giúp bệnh nhân tiểu đường loại 1 sống mà không phải phụ thuộc vào các mũi tiêm insulin. 4 trong số 5 bệnh nhân tiểu đường không cần phải tiêm insulin sau khi được cấy ghép các tế bào tuyến tuỵ của người. 28 trong số 35 bệnh nhân được cấy ghép
    năm ngoái không cần tiêm insulin trong thời gian 1 năm (tỷ lệ thành công 80% so với 11% trước năm 1997 và 14% trước năm 2000). Giới khoa học coi đây là bước đột phá, vì các thử nghiệm cấy tế bào tạo insulin trước kia đều không mấy khả quan. Thành công này mở đường cho việc cấy ghép tế bào tuyến tuỵ trên quy mô lớn.

    Thuốc ngăn chặn tiểu đường

    Ngoài liệu pháp cấy ghép tế bào, giới khoa học cũng nỗ lực phát triển các dòng thuốc trị tiểu đường.
    Trong một cuộc thử nghiệm kéo dài nhiều năm, nhóm nghiên cứu thuộc Đại học Colombia và Đại học California, San Francisco, đã sử dụng một loại thuốc có tác dụng ức chế hệ miễn dịch. Nó là một kháng thể tấn công các tế bào nhất định trong hệ miễn dịch – những tế bào tiêu diệt các tế bào tạo insulin. Đây là
    quá trình xảy ra ở bệnh tiểu đường. Bằng cách ngăn chặn những tế bào ”độc” này, cơ thể có thể tiếp tục tiết ra một lượng insulin và không phải phụ thuộc vào thuốc tiêm, cho phép người bệnh kiểm soát tiểu đường tốt hơn. Điều này cũng đồng nghĩa với việc người bệnh ít gặp phải các biến chứng như bệnh tim, mắt hoặc thận. Các liệu pháp tương tự đã được thử nghiệm trong quá khứ. Tuy nhiên, không giống như loại thuốc mới, chúng gây ra những tác dụng phụ. 12 bệnh nhân tuổi từ 7 tới 27 được tiêm loại thuốc mới hàng ngày trong vòng nửa tháng ngay sau khi được chuẩn đoán mắc tiểu đường loại 1. Nhóm nghiên cứu cũng giám sát 12 bệnh nhân khác không nhận được loại thuốc trên. Sau một năm, khả năng tiết insulin của 9 người được tiêm thuốc chỉ suy giảm chút ít. Trái lại, khả năng tiết insulin của 10 trong số 12 người không được tiêm bị giảm mạnh. Những người được tiêm loại thuốc trên có những dấu hiệu cải thiện rõ rệt
    về tình trạng bệnh tật. Hiện nhóm đang dự kiến tiến hành nghiên cứu trên quy mô lớn.

    thuoc
    DiaPep 277, một loại thuốc khác, được nghiên cứu bởi các nhà khoa học Viện nghiên cứu Weizmann (Israel), trong những lần dùng thử đầu tiên đã ngăn chặn hiệu quả quá trình hệ miễn dịch của bệnh nhân tiểu đường loại 1 tấn công các tế bào beta sản sinh insulin trên tuyến tuỵ. Tiến sĩ Itamar Raz, Đại học dược
    Hadassah-Hebrew (Israel) cho biết: ‘‘Sự phá huỷ các tế bào beta đã được ghăn chặn hoàn toàn. Kết luận này dựa trên theo dõi sau 10 tháng, lượng insulin tiết ra của người bệnh không giảm đi và còn có dấu hiệu phục hồi’’.

    Thực phẩm và tiểu đường

    Trong khi chờ đợi các loại thuốc mới cũng như kỹ thuật cấy ghép tế bào được hoàn thiện, bệnh nhân tiểu đường và người khoẻ mạnh có thể trông cậy vào chính các thực phẩm sẵn có để phòng và chữa bệnh.
    Ăn quả hạch hoặc bơ lạc nhiều lần một tuần có tác dụng hạ thấp nguy cơ mắc tiểu đường loại 2, ít nhất là đối với phụ nữ. Quả hạch giàu chất béo không bão hoà và các chất dinh dưỡng khác, góp phần ổn định mức glucose và insulin.

    qua hach
    Phụ nữ uống 2 ly rượu mỗi ngày có lượng insulin ổn định hơn mức insulin ở những phụ nữ chỉ uống nước cam và dường như bất kỳ loại rượu nào cũng có tác dụng này.
    Chế độ ăn với quá nhiều hamburger và thịt rán sẽ tăng nguy cơ mắc bệnh tiểu đường loại II ngay cả ở những người bệnh không chịu tác dụng của các yếu tố rủi ro khác như béo phì và bệnh di truyền.

    View more
  • Th2
    27

    Trái cây cho người đái tháo đường


    by Le Giang
    posted in Kiến thức
    No comments yet

    Người đái tháo đường (ĐTĐ) nên chọn loại trái cây có nhiều chất xơ, lượng đường fructose cao, chỉ số đường huyết thấp và nên ăn đúng suất theo nhu cầu năng lượng của mình.

    qua

    Người đái tháo đường nên chọn loại trái cây có trị số đường huyết thấp
    Nguồn dinh dưỡng
    Trái cây là nguồn cung cấp nhiều dưỡng chất quý báu như:
    – Các loại vitamin A, B, C…

    – Muối khoáng như Ca++, Mg++, K+…
    – Đường và nhiều chất xơ.
    – Các hóa chất sinh học như polyphenol, resveratrol và quercetin, pectin… giúp cho cơ thể chống lại bệnh ung thư, bệnh tim mạch và béo phì…
    Với những tính năng có lợi cho sức khỏe như thế thì không có lý do gì nghiêm cấm người đái tháo đường (ĐTĐ) ăn trái cây mỗi ngày. Vấn đề mà người ĐTĐ lo ngại khi ăn trái cây là họ sợ “chất ngọt có trong trái cây sẽ làm cho đường huyết của mình gia tăng và trở nên khó kiểm soát”. Các mối quan ngại khác: không biết nên ăn loại trái cây nào, ăn bao nhiêu và khi nào ăn thì tốt…
    – Từ trái cây tươi, người ta có thể đem sấy hay phơi khô để dùng quanh năm, làm sinh tố hoặc ép lấy nước uống, bảo quản lạnh, đóng lon, ướp đường… rất đa dạng.
    Một số khái niệm cần biết
    – Chất xơ: có nhiều ở lớp vỏ, lớp dưới vỏ, phần xơ thịt và hạt. Chất xơ có khả năng làm chậm quá trình hấp thu đường, tránh hiện tượng tăng đường huyết quá nhiều sau ăn. Các loại trái cây giàu chất xơ (kể cả lớp vỏ): táo (2,5%), lê (2,1%), mơ (2,1%), trái kiwi (2,1%), quả lựu (3,4%) và trái bơ (6,7%)…
    – Chất đường: hai loại đường có nhiều trong trái cây là glucose và fructose. Ăn trái cây chứa nhiều đường glucose sẽ không có lợi cho người ĐTĐ vì nó sẽ làm tăng đường huyết và tăng nhu cầu sử dụng insulin. Khác với glucose, quá trình hấp thu và chuyển hóa đường fructose không đòi hỏi sự hiện diện của insulin. Vì thế, người ĐTĐ nên chọn loại trái cây nào có nhiều fructose và ít glucose (tỷ lệ fructose/glucose lớn hơn 2) như: táo, lê, ổi và xoài…
    – Chỉ số đường huyết-CSĐH (glycemic index- GI): chỉ số phản ánh tốc độ gia tăng đường trong máu sau khi dùng một loại thực phẩm nào đó. Người ta lấy bánh mì trắng hoặc glucose làm chuẩn (GI=100) để phân chia CSĐH của thực phẩm thành ba mức: cao (GI từ 70 trở lên), trung bình (GI từ 55-69), thấp (GI từ dưới 55). Nếu ăn trái cây có CSĐH cao sẽ làm cho đường huyết tăng cao ngay sau ăn. Vì thế, người ĐTĐ nên chọn ăn loại trái cây có CSĐH càng thấp càng tốt.
    Điều cần nên lưu ý là CSĐH không tương ứng với vị ngọt. Có nghĩa là không nên dựa vào độ ngọt khi nếm một loại trái cây nào đó để suy ra CSĐH của nó. Trái cây ngọt không đồng nghĩa là nó có CSĐH cao; và ngược lại trái cây lạt không có nghĩa là có CSĐH thấp.
    – Suất trái cây: là khối lượng của một loại trái cây hay nước ép nào đó mà sau khi ăn vào có khả năng cung cấp 15g chất đường, tương đương 60Kcalo.
    – Trong chế độ ăn hàng ngày, không phải lúc nào cũng có thể cân đo đong đếm chính xác được. Vì thế, ta chỉ có thể ước lượng trung bình một suất trái cây khoảng bao nhiêu mà thôi.
    Nên ăn mấy suất trái cây mỗi ngày?
    Mỗi ngày người ĐTĐ có thể ăn từ 2 – 4 suất trái cây tùy theo nhu cầu năng lượng trong ngày.

    Những người có nhu cầu năng lượng 1.200 – 1.600 Kcalo/ngày: 2 suất.
    Đó là các đối tượng sau:
    – Phụ nữ tầm vóc nhỏ con hoạt động nhiều.
    – Phụ nữ tầm vóc nhỏ đến trung bình muốn giảm cân.
    – Phụ nữ tầm vóc trung bình không làm việc gì nhiều.
    Những người có nhu cầu năng lượng 1.600 – 2.000Kcalo/ ngày: 3 suất.
    – Phụ nữ tầm vóc to muốn giảm cân.
    – Nam giới nhỏ con có cân nặng bình thường theo chiều cao.
    – Nam tầm vóc trung bình không làm việc gì nhiều.
    – Nam tầm vóc trung bình hoặc lớn con muốn giảm cân.
    Những người có nhu cầu năng lượng 2.000 – 2.400Kcalo/ngày: 4 suất.
    – Nam tầm vóc trung bình hoặc lớn con vận động hoặc lao động nhiều.
    – Nam lớn con có cân nặng phù hợp chiều cao.
    – Phụ nữ tầm vóc trung bình đến lớn con phải vận động hoặc lao động nhiều.
    Nên ăn vào lúc nào cho tốt?
    – Theo nghiên cứu ở Mỹ, ăn trái cây một giờ trước bữa ăn có tác dụng giảm béo và giúp tiêu hóa hiệu quả.
    – Nếu ăn cơm no rồi mà ăn thêm trái cây, lượng đường tổng cộng trong bữa ăn sẽ tăng, đường huyết tăng cao và nhanh không có lợi cho sức khỏe, nhất là người bị ĐTĐ.

    View more